Album ảnh
Số lượt truy cập
Số người online    :  19
Tổng số truy cập   :  41179
Kiến thức Đông Y

 

BỆNH GOUT (Thống Phong)  

 

Là một bệnh rối loạn chuyển hóa gây tăng lượng acid uric trong huyết thanh. Triệu chứng lâm sàng chủ yếu là khớp viêm tái phát nhiều lần, dị dạng khớp, nổi u cục dưới đa và quanh khớp, bệnh tiến triển gây sỏi thận do acid uric, bệnh thận do gút. Thường gặp ở nam giới tuổi trung niên.
Đông y còn gọi là ‘Lịch Tiết Phong, ‘Bạch Hổ Phong’, ‘Bạch Hổ Lịch Tiết’.
Nguyên nhân bệnh lý theo y học cổ truyền
Goutt là một bệnh tăng acid uric huyết thanh với những biểu hiện đau khớp cấp. Lượng acid uric huyết tăng do tăng sản xuất lượng acid uric hoặc do thận đào thải kém hoặc do cả hai. Theo YHCT, thống phong là do ngoại tà xâm nhập cơ thể gây tắc nghẽn kinh lạc, khí huyết ứ trệ tại khớp gây đau co duỗi khó khăn. Bắt đầu bệnh còn ở cơ biểu kinh lạc, bệnh lâu, tà khí vào gân xương gây tổn thương tạng phủ, chức năng của khí huyết tân dịch rối loạn, tân dịch ứ trệ thành đàm, khí huyết ngưng trệ thành ứ, đàm ứ kết mà hình thành các u cục tôphi quanh khớp, dưới da. Bệnh tiến triển lâu ngày gây tổn thương đến can thận, làm biến dạng các khớp và tái phát nhiều lần.
Y văn cổ không có ghi chứng gút nhưng có chứng "thống phong" là chỉ chứng thống tý lâu ngày khó khỏi. Cho nên bệnh thống phong có thể qui thuộc phạm trù chứng tý trong đông y.

                          BỆNH CHÀM
                     (Thấp Chẩn - Eczema)

Là một bệnh ngoài da, tương đối phổ biến, điều trị dai dẳng do viêm lớp nông ở da cấp hoặc mạn tính, tiến triển từng đợt, hay tái phát và đa dạng về triệu chứng.

NGUYÊN NHÂN

Thể trạng: Có tính chất gia đình và di truyền, xuất hiện trên một cơ địa có rối loạn nội tiết, thần kinh, chuyển hóa. Kháng nguyên: Có thể là hóa chất, thảo mộc, vi sinh vật, tác nhân vật lý, gây mẫn cảm một cách từ từ.

Theo Đông y: Do phong, nhiệt và thấp kết hợp, uẩn tích trong da thịt, kết hợp với ngoại phong mà ra. 


-------------------------------------------------
TÌM HIỂU VỀ TẠNG CAN

Đông y có thuyết tạng phủ, gọi tắt là tạng tượng. Tạng là chỉ các cơ quan, bộ phận trong cơ thể. Tượng là các hiện tượng do các tạng hoạt động biểu hiện ra bên ngoài lúc bình thường cũng như khi bị bệnh mà thầy thuốc có thể biết được.
Các cơ quan nội tạng của cơ thể được chia ra 6 tạng, 6 phủ và phủ kỳ hằng.

       - 6 tạng: tâm, can, tỳ, phế, thận, tâm bào.
       - 6 phủ: tiểu tràng, đại tràng, vị, đại trường, bàng quang, tam tiêu.

Phủ kỳ hằng là các cơ quan còn lại như: não, tủy, tử cung... 
Trong phạm vi bài này xin phép trình bày về tạng can.
Chức năng của tạng can
Can chủ sơ tiết: Phân bố dương khí toàn thân, sách Tố vấn ghi: "Can giữ chức tướng quân". Nếu can khí thiếu làm người ta yếu đuối dễ sợ. Nếu can khí sơ tiết quá độ, can dương thịnh dễ sinh choáng váng, đau đầu, mắt đỏ, chảy máu mũi. Can khí bị dồn nén uất ức dễ sinh ngực đầy tức, đau mạng sườn.
Can tàng huyết: Tàng là giữ, chứa và điều hòa lượng huyết trong cơ thể. Khi hoạt động lượng huyết cung cấp cho cơ quan nhiều. Khi nghỉ lượng huyết cho các cơ quan ít. Khi ngủ thì huyết về can.
Can chủ cân: Cơ khớp co duỗi vận động được điều hòa là nhờ can dinh dưỡng cân tốt.
Khi bị trúng phong, tổn thương can, cơ thể có thể liệt từng phần như liệt mặt hoặc liệt nửa người. Can vinh nhuận ra móng tay móng chân, xem móng để biết can khỏe hay yếu "móng là phần dư của can". Can liên quan với tâm theo quan hệ tương sinh là hỗ trợ giúp đỡ nhau hoạt động. Can liên quan với tỳ theo quan hệ tương khắc, nghĩa là can ức chế kìm hãm tỳ không cho tỳ hoạt động quá mức.
Tạng thận quan hệ với can theo quan hệ tương sinh, tạng phế quan hệ với can theo quan hệ tương khắc.
Như vậy bệnh ở tạng can có thể do bị dồn nén uất ức cũng có thể do quá trình tương sinh không đủ. Thận yếu sinh can yếu.
Cũng có thể do khắc phạt quá mức: phế khắc can. Can quan hệ với đởm là quan hệ âm dương, quan hệ tạng phủ. Đởm và can cùng ở hành mộc trong ngũ hành.
Phòng bệnh cho tạng can chính là có chế độ sinh hoạt điều hòa, tránh căng thẳng, bực tức, uất ức. Người bị trù úm, dồn nén, oan ức nhiều, hoặc cuộc sống quá căng thẳng thường làm can suy yếu.
Thuốc để chữa bệnh can có nhiều, tùy thể bệnh mà thầy thuốc sẽ chọn để phối hợp với nhau.
Thí dụ: Các vị thuốc nhuận can như rau má, nhân trần, dành dành...; Thuốc điều hòa chức năng can như: sài hồ, hoàng cầm, bạch thược, thiên ma, câu đằng; Thuốc hỗ trợ can như sơn thù, ngũ vị...
------------------------------------------------------------

Lưu ý khi dùng Đông dược 

 

 

 

Sau khi người bệnh đã được chẩn đoán đúng bệnh và xác định đúng phương thuốc thích hợp, đó mới chỉ là điều kiện cần nhưng chưa đủ, còn phải giải quyết nhiều vấn đề tiếp theo: làm thế nào để có các vị thuốc tốt, đúng phẩm chất, không mua phải hàng “rởm”? Mua được đúng thuốc rồi thì chế biến và sử dụng như thế nào cho hợp lý? Uống thuốc vào có xảy ra sự cố gì không? Nếu có thì cách xử trí ra sao?

 

 

 

Giai đoạn sắc và uống thuốc:

Công hiệu của phương thuốc còn phụ thuộc nhiều vào kỹ thuật sắc, nấu và sử dụng hợp lý.

Sắc thuốc: công việc này bao gồm chọn nồi, chọn củi và duy trì chế độ nhiệt.

Nồi sắc thuốc: theo kinh nghiệm cổ truyền các cụ ta hay dùng nồi đất. Nồi đất có nhiều ưu điểm nhưng dễ vỡ, dễ trào. Trong thời đại công nghiệp hiện nay tốt nhất là dùng nồi nhôm hay nồi tráng men.
Lửa sắc thuốc: lửa sắc thuốc không nên mạnh quá làm thuốc dễ khô cạn hay bốc hơi mất tinh dầu. Nên đun từ từ, sôi rồi thì giảm lửa dần cho sôi âm ỉ, độ nửa giờ thì rót thử.
Củi sắc thuốc cũng phải lấy từ các loại cây không có độc để khỏi ảnh hưởng đến chất lượng thuốc.
Uống thuốc: thông thường mỗi thang thuốc nên uống vào 3 buổi trong ngày. Thời gian uống thuốc tốt nhất là vào lúc nửa đói nửa no (giữa buổi sáng và buổi chiều) và tối trước khi đi ngủ. Trước và sau khi uống thuốc nửa giờ không nên ăn uống gì. Những món ăn cần kiêng ngoài các món cụ thể đối với từng bệnh, nên kiêng chất chua, đậu xanh, giá.

Các sự cố xảy ra khi uống thuốc và cách xử trí:
Trong một số trường hợp sau khi uống thuốc xong có một vài sự cố xảy ra khiến bệnh nhân hoang mang lo sợ. Các sự cố thường gặp là:

Chuyển thuốc: sau khi uống thuốc một vài giờ, thấy chân tay run rẩy, hoặc toát mồ hôi, hoặc đau mỏi toàn thân... các cụ xưa gọi là “chuyển thuốc”, tức là phản ứng tự nhiên với thuốc của một cơ thể đang có bệnh. Khi thấy những hiện tượng như thế, cần bình tĩnh, nghỉ ngơi vài giờ, nếu không thấy diễn biến gì xấu hơn, chứng tỏ cơ thể đã thích hợp với thuốc vừa uống.


 

Nôn mửa: do người đang yếu mà thuốc thì quá mạnh hoặc đắng quá nên uống vào hay bị nôn ra, thuốc không nằm lọt trong ruột được. Gặp những trường hợp như vậy chỉ cần nhai một miếng gừng, vài phút sau cho uống thuốc luôn, nếu là trẻ nhỏ hoặc người yếu răng thì giã gừng thật nát, chế vào một muỗng nước, vắt lấy nước cốt cho uống.

Sôi bụng: do không nhận định đúng bệnh trước khi dùng thuốc, uống lầm phải thuốc mát, vài giờ sau thấy bụng sôi lục bục hoặc đau lâm râm, nếu vậy chỉ cần nướng một mẩu gừng cho ăn là khỏi. Với những người hay bị rối loạn tiêu hóa do tỳ vị lạnh yếu thì dùng thuốc cần thận trọng. Nếu uống nước đầu thấy sôi bụng, thì nước sau cho thêm 3 lát gừng vào mà sắc, sẽ không có chuyện gì hết.

Rối loạn tiêu hóa: cũng tương tự như trường hợp trên, do thuốc mát quá, tỳ vị lạnh yếu không chịu nổi. Sự cố này cũng khắc phục như trên, cho thêm 3-5 lát gừng vào nước sắc. Để cầm tiêu chảy kịp thời, chỉ cần nhai một nắm búp ổi hoặc búp sim, búp chè với vài lát gừng, sẽ vô sự.